Em gái [7]

Thùy Lâm nhanh chóng nhận ra môi trường mới thật nhiều khắc nghiệt. Lớp học với những bài giảng về kinh tế học không gây hứng thú cho nó. Cuộc sống sinh viên thiếu thốn không thể chỉ trông đợi vào trợ cấp có hạn của gia đình. Thùy Lâm cũng như bao đứa sinh viên con nhà nghèo ở tỉnh lẻ lên thành phố khác, phải lăn xả đi làm thuê, kiếm tiền đủ kiểu.

Đầu tiên là công việc phục vụ cho một nhà hàng tiệc cưới. Đó là một nhà hàng năm sao, nhân viên phục vụ được trang bị đồng phục. Giày vớ, búi tóc thì phải tự trang bị lấy. Nhân viên phục vụ phải có mặt từ hai giờ chiều, chuẩn bị bàn, lau chén đĩa, gắn nơ cho ghế ngồi. Thông thường đến sáu giờ thì chủ tiệc và khách khứa lần lượt có mặt. Nghi lễ và tiệc tùng kéo dài đến tầm chín, mười giờ, mỗi nhân viên được phân công phụ trách một bàn, ngoài ra có trưởng nhóm đi giám sát công việc. Tầm chín, mười giờ tối, khách dự tiệc về hết thì nhân viên phục vụ ở lại thu dọn bát đĩa. Khoảng mười một giờ sẽ được ra về.

Ngày đầu đi làm, Thùy Lâm chưa được giao phụ trách bàn tiệc vì chưa có kinh nghiệm. Nó được phân công bê một bình thủy tinh chứa bia, đi vòng quanh tiếp bia cho khách. Mới chỉ ngày đầu thôi mà con bé nhận được tiền bo vô cùng hậu hĩnh, cao hơn gấp mấy lần tiền lương, khiến tụi bạn đồng nghiệp phải ghen tị. Tuy nhiên, trải nghiệm công việc khiến Thùy Lâm phát khiếp. Các ông sồn sồn ngang tuổi bố hay thậm chí già hơn, sau dăm ba ly ngà ngà thì bắt đầu kéo tay nắm áo gọi con bé tiếp thêm bia bên này, lại chạy sang châm bia bên kia. Những cặp mắt đã hằn những nếp nhăn nơi khóe mắt, bọng mỡ sưng húp, cứ như lồi ra, dán chặt trên người nó như muốn ăn tươi nuốt sống. Thế là Thùy Lâm nghỉ làm.

Không đi làm thuê kiếm dăm ba nghìn một giờ đồng hồ nữa, nó dành dụm tiền ra chợ đầu mối Kim Biên mua móc khóa, quà lưu liệm sỉ về bán. Kim Biên là chợ chuyên nhập các loại hàng hóa từ Trung Quốc như đồ lưu niệm, trang trí, hóa chất, đồ điện tử,… Các hàng hóa này sau khi được nhập theo kiện, theo ký với giá sỉ thì phân phối lại cho các cửa hàng để bán lẻ. Chợ khá xa so với chỗ trọ, mỗi lần đi lấy hàng Thùy Lâm phải đi chừng hơn bốn mươi phút bằng xe máy mới đến nơi. Không đủ vốn để lấy số lượng lớn, Thùy Lâm chỉ mua mỗi món với số lượng tầm mười cái và hưởng chiết khấu ít hơn. Chẳng có tiền thuê mặt bằng mở tiệm, nó trải bạt bày bán trên vỉa hè. Công việc này cũng không kéo dài được bao lâu vì trật tự đô thị thường hay bắt bớ. Thỉnh thoảng một buổi chiều bất kỳ, chiếc xe bán tải của đội trật tư đô thị chạy lòng vòng qua những con đường buôn bán tấp nập ở Sài Gòn. Người ta tụ tập buôn bán trên vỉa hè, những hàng quán cũng lấn chiếm diện tích vỉa hè để làm chỗ trưng bày biển hiệu hay bãi để xe cho khách. Nhác thấy bóng xe trật tự đô thị từ đầu con phố, những người buôn bán nhỏ lẻ này hò nhau thu dọn mọi thứ thật nhanh để tránh bị tịch thu hàng hóa. Có người chậm chân, mất nguyên xe bánh kẹo. Người khác vừa mới bày biện các loại vớ, bao tay, khẩu trang, chưa kịp bán đã bị tịch thu hết… Thế là bao nhiêu vốn liếng mất sạch. Còn là sinh viên và con bé trông cũng dễ mến nên mấy lần Thùy Lâm được các anh trật tư đô thị nương tay, chỉ cảnh cáo, không tịch thu hàng. Nhưng Thùy Lâm cũng nản dần việc ngồi ngóng mặt trên vỉa hè cả buổi trời rồi bất thình lình nghe tiếng hô “Đô thị tới!” thì thu vén tất cả lên mà chạy như chạy giặc.

Tận dụng thế mạnh khéo tay của mình, con bé chuyển sang vẽ áo theo yêu cầu để bán, nó còn làm cả móc khóa vải nỉ, lang thang khắp các công viên chào mời. Ti tỉ những việc ấy tôi không ở cạnh bên mà chia sẻ với Thùy Lâm, chỉ nghe nó kể qua những lần gặp gỡ hay gọi điện hiếm hoi. Tôi thấy có chút xa Thùy Lâm mà không biết làm sao để gần hơn được. Tôi không cùng một giờ giấc sinh hoạt, cùng một mục tiêu hay những kỳ hạn bài vở như ngày còn đi học để chia sẻ thời khóa biểu với nó. Chúng tôi phải học cách sắp xếp thời khóa biểu của riêng mình và trong một nỗ lực nào đó dành những khoảng thời gian rảnh rỗi trùng khớp cho nhau.

Có lần Thùy Lâm nói với tôi nó hoang mang vì không tìm thấy đam mê, chán ngấy với mớ lý thuyết trên giảng đường mà con bé cho là xa rời thực tiễn, khó có cơ hội ứng dụng khi vừa mới ra trường. Tôi nghe rồi nghĩ ngợi mông lung. Tôi cũng chỉ vất vả với công việc thợ mộc và đồng lương học nghề để kiếm tiền tự chi tiêu mỗi tháng, tôi không rõ đam mê của mình. Tôi đam mê điều gì nhỉ? Mà chắc là đam mê của hai chúng tôi như nhau: Một cuộc sống không bị chi phối, bon chen chạy vạy bởi đồng tiền.

Những năm này, điện thoại di động bắt đầu trở nên phổ biến, những chiếc điện thoại màn hình đen trắng, bàn phím T9 với những nút bấm thô sơ, hầu như ai cũng có cho mình một cái. Chẳng bao lâu sau thì những chiếc điện thoại thông minh ra đời, với đủ các chức năng kể cả quay phim chụp ảnh và màn hình cảm ứng, được bày bán nhan nhản trên các cửa hàng điện tử viễn thông với đủ kích thước, màu sắc, từ rẻ vừa tầm cho sinh viên và giới làm thuê cho đến đắt đỏ bằng cả gia tài. Mạng không dây và thư điện tử cũng phát triển, người ta chẳng cần phải đi ra bưu điện gửi thư hay điện tín cho nhau nữa. Trường hợp khẩn cấp cũng có thể liên lạc với nhau rất nhanh. Trạm bưu điện ở xã quê tôi, nơi gian phía trước có cô nhân viên bưu điện thường ngồi tiếp nhận thư từ, bưu phẩm và khách đến gọi điện thoại công cộng. Mấy lần tôi về thì gian ấy đã đóng cửa im lìm, người ta chỉ duy trì văn phòng cho những nhân viên trực hệ thống viễn thông trên địa bàn xã. Mọi thứ về thông tin liên lạc trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết. Cái sự hiện đại ấy, thật nhanh chóng mà dễ dàng, xóa sạch tàn dư của kiểu giao tiếp thông tin liên lạc thô sơ, mộc mạc. Cái gì có được dễ dàng quá người ta thường không trân quý, ngày xưa mỗi lần viết thư hay gặp gỡ nói chuyện được với nhau là một lần như thể tâm giao, còn khi mọi thứ trở nên dễ dàng và nhanh chóng, cách người ta cũng giao tiếp chóng vánh, hời hợt đến nhạt nhẽo vô cùng.

Tôi và Thùy Lâm cũng có cho mình mỗi đứa một chiếc điện thoại, thế nên chả mấy khi viết thư cho nhau nữa. Gọi điện thoại thì sợ tốn tiền, nhắn tin thì tin nhắn bị giới hạn số ký tự, chỉ vỏn vẹn có vài dòng vắn tắt. Xưởng mộc mà tôi đang học nghề kiêm làm thuê thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn, còn Thùy Lâm ở trọ gần khu vực trung tâm. Trong cái thành phố tấp nập và xô bồ này, khoảng cách giữa người và người được đẩy thêm ra bởi không gian đầy nghẹt những tòa nhà cao tầng bít bùng, những dòng xe cộ chật như nêm ngày nào cũng cáu kỉnh nhích từng chút một. Người ta không thể không cần thấy mặt, chỉ cần gọi tên nhau mà tưởng chừng âm thanh sẽ lan theo gió đến tai người được gọi. Bởi xung quanh là inh ỏi tiếng xe cộ, động cơ, những tiếng chào hàng, trao đổi, tiếng cười nói, cãi vã,… Tôi trở nên lười bước ra đường, lười băng qua bằng ấy những trở ngại chỉ để đến hàn huyên vài phút với Thùy Lâm. Điện thoại càng khuyến khích thêm cho cái lười biếng ấy. Tôi chỉ chăm chỉ học nghề, chơi với những khúc gỗ, và trông ngóng mỗi dịp lễ cả hai cùng về quê sẽ được gặp lại nó.

Làng quê của chúng tôi những ngày giáp Tết lành lạnh. Mùi đất hay là mùi gió mang hơi muối biển riêng biệt của quê hương không nơi nào có được, cứ phảng phất trong không khí, mát lành chảy vào phổi, xoa dịu trái tim tôi. Công viên cây xanh nho nhỏ phía sau tượng đài liệt sĩ kế bên ngôi trường cấp ba ngày trước chúng tôi cùng học. Chiếc xích đu khung hình tròn sơn đỏ vàng với chiếc bàn bằng sắt mạ inox ở giữa và hai ghế hai bên, Thùy Lâm ngồi đối diện tôi. Con bé trông rắn rỏi hơn trước nhiều lắm, ánh nhìn xa xăm như chất chứa bao nỗi niềm.

– Sao em lại chia tay?

– Nhiều lý do lắm anh.

– Đã yêu nhau gần ba năm rồi…

– Ừm, gần ba năm rồi… Em từng tưởng sẽ lấy người ấy làm chồng, từng nghĩ sẽ không còn yêu ai nhiều hơn thế, mà chắc là sẽ không thể yêu ai nhiều hơn thế thật.

– Nhưng tại sao lại chia tay? – Tôi vẫn tò mò

– Anh ấy muốn ra trường thì về quê, xin đi dạy ở trường làng hoặc làm nông, sống một cuộc sống giản dị. Nhưng em muốn khác hơn. Em không muốn sống cuộc đời nghèo khổ, sống hôm nay không biết ngày mai nữa.

– Sao em không nói ra?

– Nói rồi. Nhưng cả hai không có niềm tin vào con đường của đối phương.

Tôi im lặng hồi lâu, tự hỏi con đường tôi đang đi liệu có giống con đường Thùy Lâm muốn đi? Liệu tôi có tin vào con đường của chính mình?

Thùy Lâm chợt đứng dậy, ra chỗ chiếc Cub cũ mà nó được gia đình cậu mợ trang bị cho những ngày cần phương tiện đi làm thêm, nhanh nhảu lấy từ trong giỏ xe ra một hộp bánh đúc, mở nắp đặt lên bàn.

– Ăn nè anh!

Lâu lắm rồi tôi mới lại ăn bánh đúc. Miếng bột mát mịn trơn tuột vào cổ họng. Thịt băm nấm mèo béo ngậy và mùi xì dầu pha dấm đặc trưng. Thứ quà quê tôi không tìm mua được ở thành phố. Chẳng mấy chốc mà hai đứa đánh hết veo hộp bánh, đúng thật người ta nói khi buồn con gái thường hay ăn!

Thế là Thùy Lâm chia tay mối tình đầu của em, đôi lúc tôi chợt thích gọi Thùy Lâm là em, không muốn dùng từ “nó” khi nghĩ về con bé. Cũng chẳng có một nguyên do gì rõ rệt, chỉ đơn giản là thấy từ “nó” có lúc không đủ để biểu lộ được tình cảm của tôi dành cho đứa em gái đặc biệt ấy, hay chính xác hơn là không phù hợp để nói về con bé trong hoàn cảnh này. Phải, Thùy Lâm chia tay mối tình đầu, không một giọt nước mắt, vì em là người quyết định. Tôi muốn hỏi Thùy Lâm có buồn không. Tôi biết phải buồn nhiều chứ, mộng mơ tuổi trăng tròn của em, tinh khôi những cảm xúc đầu đời của em. Như thằng tôi của cách đây vài năm đã khóc như mưa tiễn đưa mối tình đầu ấy. Thùy Lâm cũng là một mặt hồ dạt dào xúc cảm, tôi hiểu điều đó trong những bức thư cách đây chỉ mới một hai năm chúng tôi chuyền tay qua lại kể đủ chuyện hàng ngày. Tôi nhìn Thùy Lâm, muốn bảo em hãy khóc đi, một lần cho thỏa. Nhưng bằng một lực cản vô hình nào đó, bởi chính Thùy Lâm chăng? Tôi vẫn im lặng, và mặt hồ thu trong đôi mắt Thùy Lâm phẳng lặng đến nao lòng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: